Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

Cá La hán

Cá La Hán là một loài cá có được qua phương pháp lại tạo của các nghệ nhân cá cảnh chứ trong tự nhiên không hề có loài cá này. Có một số nhận định cho rằng cá La Hán được lai tạo từ cá Hồng Két (Red Parrot) và cá rô phi họng đỏ mà ra, nhưng thực chất chúng được lai tạp từ nhiều loài cá khác nhau cùng chung một họ cá rô phi rất đa dạng vốn có hơn 400 loài. Những con cá La Hán đầu tiên xuất hiện tại các bể nuôi ở Malaysia. Đến năm 2001, từ những cuộc thi cá La Hán đầu tiên đã nhen nhóm phong trào chơi cá La Hán và nhanh chóng lan rộng, được nhiều người hưởng ứng và được phổ biến đến các nước Châu Á khác gồm có Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,... và thực sự phát triển mạnh ở Việt Nam vào đầu năm 2004.
Hiện nay, cá La Hán được rất nhiều người nuôi cá chọn nuôi làm cá cảnh, cá La Hán được đón nhận rất cuồng nhiệt hơn cả cá đĩa và cá rồng xưa kia, vì người ta quan niệm loài cá này đem lại sự thịnh vượng và may mắn từ thân hình lấp lánh nhiều ánh châu và chiếc đầu gù to dị dạng khiến loài cá này càng trở nên đẹp và ngộ nghĩnh.



Là loài cá cảnh được lai tạo, có tuổi thọ khá cao (trên 10 năm) và sức khỏe cũng khá tốt. Cá trưởng thành có khá nhiều điểm đặc biệt được thừa hưởng bởi cá cha và cá mẹ đặc biệt là màu sắc lấp lánh trên thân không con nào giống con nào cả. Chúng có đuôi xòe đẹp và vây thường kéo dài, mắt không to, hai mang ngắn. Cá La Hán trưởng thành có kích thước từ 25cm hoặc 30cm tùy loài. Cá La Hán khá hiếu động và tò mò, bơi lội nhiều trong hồ và cũng thích phá phách những vật làm cảnh như đá, cây thủy sinh nên thường nuôi cá La Hán trong hồ trơn. Dễ nuôi vì cá mạnh khỏe, ít bệnh lại ăn tạp, chủ yếu những thức ăn sống như tôm tép, ốc, cá con và thịt bò băm nhuyễn (khó tiêu).
Tiêu chuẩn chung để đánh giá một chú cá La Hán đẹp là thân mình phải nhiều "châu" tức là những vảy cá óng ánh, màu sắc sặc sỡ và cái đầu phải có cái gù càng to thì càng có giá trị.
Sở dĩ một chú cá La Hán đạt tiêu chuẩn lại có giá cao vì mặc dù chúng sinh sản khá dễ, nhưng số cá trưởng thành có màu sắc đẹp và đầu gù to thường chiếm tỷ lệ khá thấp trong đàn cá, từ 10% đến 30% cho dù cá cha và cá mẹ đều đẹp.
Cá La Hán được lai tạo ra có hơn 60 loài nhưng những loài sau đây được ưa thích và nuôi nhiều là:

- Kim Cương
- Thái đỏ
- King Kamfa (giống ngoại nhập và đắt nhất trong các loại hiện nay)
- King lai ( Thường được lai giữa King Kamfa mái và Kim cương trống



Cá la hán ăn tạp nên ăn được nhiều loại thức ăn: trùn chỉ, lăng quăng hoặc tôm tép tươi…, hoặc thức ăn tươi sống như ròng ròng
Ngoài ra cá cũng ăn thức ăn dạng tổng hợp có bán tại các cửa hàng kinh doanh cho cá kiểng.
Cá La Hán hình như đã thoát ra khỏi thú chơi cá tao nhã bình dị mà những người chơi cá cảnh bấy lâu nay đã cảm nhận được. Bên cạnh những giá trị về mỹ quan thì giá trị về kinh tế của nó cũng thật đáng nể.

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Cá cảnh biển - cho ăn thế nào là đúng cách

Trong thế giới hoang dã, tìm kiếm thức ăn là một trong 3 việc chính mà cá biển thực hiện (2 việc khác là sinh sản và tìm cách sinh tồn hoặc để những con cá lớn hơn ăn thịt). Bạn có thể tranh luận rằng bị khai thác cũng giống như việc bị ăn thịt vậy.
Nếu bạn quan sát cá nước mặn một lúc, đặc biệt trong thế giới tự nhiên, bạn sẽ để ý thấy rằng các loài ăn cỏ liên tục tìm kiếm thức ăn hoặc “ăn dạo” như một số người vẫn nói. Trong khi đó những con động vật ăn thịt thì thích lượn lờ và kiếm những bữa ăn đơn giản. Các loài ăn cỏ có bộ lòng dài hơn các loài ăn thịt. Đó là do chúng mất nhiều thời gian để tiêu hóa tảo và chắt lọc protein để nuôi sống chúng hơn. Các loài ăn thịt có bộ lòng ngắn hơn bởi nó không phải mất nhiều thời gian khi hấp thụ protein từ những thớ thịt tươi sống của các con mồi như ốc sên, cá, tôm,…
Với các loài ăn cỏ, lý tưởng nhất là có một nguồn thức ăn luôn sẵn có cho chúng. Tảo mọc trong bể sẽ cung cấp một lượng nhất định nhưng trừ khi bạn có thật nhiều, bạn sẽ cần phải bổ sung thức ăn cho chúng. Các loại thức ăn được chuẩn bị như nhiều loại thức ăn vụn, là thức ăn tập trung dinh dưỡng và tùy từng loại mà có thể cung cấp cho cá mọi thứ chúng cần. Cho cá ăn ít một trong một lần hoặc hơn mỗi ngày thì gần với cái cách thức mà chúng ăn trong tự nhiên hơn là cho ăn từng đợt cứ sau 2 hoặc 3 ngày.


Hầu hết các loại cá (thậm chí cá mập) sẽ chỉ ăn những gì chúng cần để tồn tại. Nếu bạn nhìn ngắm những con cá của mình khi cho chúng ăn, bạn sẽ thấy rằng chúng sẽ ăn uống năng nổ trong khoảng 2 phút rồi sau đó sẽ làm ngơ với chỗ thức ăn còn lại nhiều giờ liền. Thức ăn thừa sẽ biến thành rác thải và lắng xuống đáy, tạo ra nhiều nitơrat hơn.
Nếu bạn chỉ cho cá ăn một lần cứ sau 2 hoặc 3 ngày, đó không phải là cách mà hầu hết các loại cá vẫn ăn trong thế giới tự nhiên, giống như những gì mà chúng ta đang cố gắng bắt chước. Theo kinh nghiệm của tôi, cho ăn hai lần một ngày và chỉ vừa một lượng để chúng ngốn hết trong vòng 2 phút là tốt nhất.
Các loài ăn thịt thì ngược hẳn lại. Những con cá chình là một ví dụ tuyệt vời. Chúng có thể bơi lội nhiều ngày mà không cần ăn uống gì rồi sau đó đột ngột ăn ngấu nghiến trong vòng vài phút. Kinh nghiệm của tôi là nếu bạn có một tập hợp các loài ăn cỏ, ăn thịt và ăn tạp trong bể, chúng sẽ tìm được thức ăn và ăn đủ nếu bạn cho ăn nhẹ hai lần một ngày.
Mỗi bể đều có yêu cầu khác nhau nhưng thực sự để tính toán lượng đó thì không khó. Hãy quan sát những con cá của bạn. Nào hãy cố gắng để trở thành anh hùng biển cả, những người mới bắt đầu với thú chơi này.

Loài sinh vật kỳ lạ ở đáy đại dương

Một con chuột biển (còn gọi là sâu biển) vừa bị một cơn bão đánh dạt lên bờ biển Kent (Anh). Thông thường, loài này được tìm thấy ở độ sâu hơn 2.000m.

Con chuột biển dài hơn 10cm này được phát hiện khi đang nằm giữa các viên sỏi và vỏ sò nhờ vào bộ lông sáng óng ánh của nó. Loài này có thể có chiều dài lên đến 30cm và thường sống ở dưới vùng liên triều ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Lưng của chúng được bao phủ bởi một lớp lông có màu đỏ ánh xanh trong một cơ chế bảo vệ đặc biệt. Do không nhìn thấy đường nên chúng định vị bằng các xúc tu (phần phụ nhỏ có nhiều lông giống như mái chèo). Những xúc tu này giúp chúng tìm kiếm các xác chết và các sinh vật biển bị phân hủy. Chúng là loài lưỡng tính với các cơ quan chức năng sinh sản của cả hai giới tính được tìm thấy trong cùng một cơ thể và thường bị dạt vào bờ sau bão.



Aquagreen

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Giới thiệu về cá Ali

Đặc điểm chung
Ali có kích thước khi trưởng thành là 12cm (có thể lớn hơn khi đc nuôi trong điều kiện tốt, đôi khi là 20cm). Cơ thể thon dài, con mái và những con chưa trưởng thành có màu trắng - vàng kèm sọc đen kéo dài ngang thân. Đặc biệt hơn, con đực trưởng thành có màu đối ngược lại, sọc xanh trắng trên nền đen hay xanh sẫm, màu này đc biến đổi trong khoảng thời gian con đực được 6-9 tháng tuổi), đôi khi con đực trưởng thành vẫn mang màu như con cái khi yếu thế trong môi trg sống và biến đổi màu khi gặp đk thích hợp (kẻ thù,thức ăn,mùa sinh sản...). Ngoài ra, màu của con đực có thể nhợt nhạt, lem hay màu nâu nếu chế độ thức ăn kém,thiếu thức ăn thực vật,nhưng có thể được khôi phục lại nếu cho ăn phù hợp. 
Một đặc điểm thú vị nữa về màu sắc là khi không có con đực trong bể thì sẽ có một con mái mang màu sắc con đực và thống trị phần còn lại.

Đặc điểm nuôi dưỡng
Cá được xếp mức độ 4, mức rất khó nuôi (có 5 mức:1 là dễ -->5 là cực kì khó). Lý do là chúng mạnh hơn rất nhiều so với phần lớn các loài Mbuna khác(con đực có thể coi là mạnh nhất) Con đực của loài này tấn công không nhân nhượng và giết chết bất cứ kẻ xâm lược nào vi phạm lãnh thổ,trừ khi tới để để ghép đôi sinh sản. Không nên nuôi quá một con đực đối với hồ có thể tích dưới 125L( có tài liệu ghi là 425L) vì chúng có thể giết lẫn nhau tới khi còn con đực cuối cùng. Con cái cũng có lãnh thổ riêng và tấn công các con cái khác vi phạm,chúng đặc biệt hung dữ khi mang trứng. Mỗi con cần lãnh thổ riêng và rất hung dữ,đặc biệt tấn công không thương tiếc kẻ cùng giới tính. Nếu bạn muốn nuôi loài này,nên nhớ nuôi trong bể có kich thước thật lớn,nuôi ghép trong trường hợp ghép với loài có kích thước lớn hơn hoặc bằng và có tính dữ dằn như chúng.

Các loại cá Ali

1. Cá Ali trắng – Pindani
 

-Đặc điểm: Cá Ali trắng có thân thoan dài, đỉnh đầu dốc, miệng rộng. Cỡ cá tối đa 8cm. Thân và các vây có màu trắng như tuyết.
-Phân bố: Cá nhập nội từ cuối thập niên 90, trung bình 500 – 1000 con/năm giai đoạn 2000 – 2004. Cá đã sản xuất giống trong nước từ năm 2004, tập trung ở Biên Hòa
- Thức ăn: Cá ăn động vật. Thức ăn bao gồm cá con, côn trùng, giáp xác, trùng chỉ, thức ăn viên
- Chăm sóc: Cá lên màu đẹp trong môi trường nước cứng và pH kiềm. Có thể trải một lớp đá san hô trên bể để giữ môi trường phù hợp cho cá
-Sinh sản: Tỉ lệ đực cái khi tham gia sinh sản là 1:3. Cá cái đẻ trứng lên giá thể cứng trong bể, cá đực thụ tinh ngoài, sau đó cá cái gắp trứng lên miệng để ấp. Thời gian cá cái ấp trứng và giữ con trong khoang miệng khoảng 3 tuần

2. Cá Ali vàng - Yellow prince


Đặc điểm: Cá Ali vàng có thân thon dài, đỉnh đầu dốc, miệng rộng. Cỡ cá tối đa 10cm. Thân cá có màu vàng đặc trưng, các vây vàng nhạt pha trắng với các viền đen
-Phân bố: Cá nhập nội từ cuối thập niên 90, trung bình 2 – 6 ngàn con/năm giai đoạn 2000 – 2003. Cá đã sản xuất giống trong nước từ năm 2004, tập trung ở Biên Hòa

3. Cá Ali xanh vằn - Zebra Malawi Cichlid


-Đặc điểm: Cá Ali xanh vằn (huyết trung hồng) là dạng kiểu hình thân màu đỏ hồng của loài Mayladia zebra với màu thân đa dạng từ xanh vằn đến đỏ, vàng cam...Cỡ cá tối đa 11cm, thân thon dài, đỉnh đầu dốc, miệng rộng
- Phân bố: Cá nhập nội từ năm 2003, lượng nhập xấp xỉ 1.000 con/năm
-Tầng nước ở: Mọi tầng nước
- Chăm sóc: Cá lên màu đẹp ở môi trường nước cứng và pH kiềm (pH 8,0). Bể cần bố trí lọc
nước và sục khí thường xuyên.
- Thức ăn: Cá ăn tạp từ tảo, thực vật đến côn trùng, giáp xác, trùng ... Cá cũng ăn thức ăn viên.
-Sinh sản: Tỉ lệ đực cái khi tham gia sinh sản là 1:3. Cá cái ấp trứng và giữ con trong khoang miệng khoảng 3 – 4 tuần.
-Thiết kế bể: Cá thích hợp trong bể có nhiều hang, hốc đá với nền đáy cát. Cá hay gây hấn và tranh giành lãnh thổ, nên thả chung với nhiều loài khác như cá ali xanh, vàng, trắng … để cá giảm bớt tính hung hăng.

4. Cá Ali Xanh Sciaenochromis ahli (Trewavas, 1935)


-Thiết kế bể: Cá thích hợp trong bể có nhiều hang, hốc đá với nền đáy cát. Bể có khoảng không rộng rãi cho cá di chuyển. Không nên thả nhiều cá đực trong bể chật để tránh cá gây hấn. Bể nuôi chung các dạng cá ali xanh, vàng, cam, trắng … gây liên tưởng đến bể cá cảnh biển do cá có màu sắc đẹp và dáng bơi rất đằm.
-Chăm sóc: Cá lên màu đẹp trong môi trường nước cứng và pH kiềm. Có thể trải một lớp đá san hô trên bể để giữ môi trường phù hợp cho cá.
- Thức ăn: Cá ăn động vật. Thức ăn bao gồm cá con, côn trùng, giáp xác, trùng chỉ, thức ăn viên …
-Sinh sản: Tỉ lệ đực cái khi tham gia sinh sản là 1:3. Cá cái đẻ trứng lên giá thể cứng trong bể, cá đực thụ tinh ngoài, sau đó cá cái gắp trứng lên miệng để ấp. Thời gian cá cái ấp trứng và giữ con trong khoang miệng khoảng 3 tuần.

5. Cá Ali Sát Thủ Mắt Malawi – Compressiceps Cichlid – Dimodiochromis

Đây thực sự là một trong những con cá đẹp nhất trong dòng cá Ali, khi cá trưởng thành và lên đủ màu sắc, nó thực sự khiến bất cứ người chơi nào cũng phải đam mê


Do đặc điểm sinh học, chúng còn được gọi là những con cá Sát Thủ Mắt Malawi, chúng là loài ăn thịt duy nhất ăn từ đuôi của con mồi.
Những con Ali mõm dài Malawi cần một bể nuôi có kích thước tối thiểu 70 gallon nước. Chúng cần nền cát mềm và nhiều hang hốc núi đá để trú ẩn.
Compressiceps là một trong những loài ấp trứng miệng. Hầu hết những con cá cichlids Malawi thuộc nhóm này đều dễ dàng nhân bản trong bể nuôi với thiết kế phù hợp. Một nhóm cá với 5 đến 7 con cái và một con đực sẽ là mô hình nhân bản tối ưu.
Những con cá sát thủ Mắt Malawi có một chế độ ăn đơn giản, có thể là thực phẩm sống, thịt đông lạnh, hoặc thức ăn viên được thiết kế cho Cichlids châu phi.

6. Cá Ali Vây Chỉ – Threadfin Geophagus – Acarichthys heckelii

Cá Ali là một loại cá cảnh khá nhiều người chơi lựa chọn bởi chúng khỏe mạnh, nhiều màu sắc và đặc biệt nuôi đàn thì lung linh không khác gì cá biển.



Nhiều người đam mê cá Ali- Cichlid xem cá Ali Vây Chỉ như một chuỗi ngọc quý trong hồ cá gia đình, chúng khá hòa bình trong bể cá lớn với nhiều chỗ trú ẩn. Khi cá trưởng thành, một loại chỉ trên vây lưng xuất hiện, kết hợp với cơ thể màu bạc ánh xanh tuyệt đẹp, Threadfin Geophagus làm cho bể nuôi thêm một điểm nhấn quý phái.
Có nguồn gốc ở khu vực Amazon của Brazil, cá Ali Vây Chỉ cần một bể rộng hơn 40 gallon nước, với nhiều chỗ ẩn nấp giữa đá, cây, lũa. Giống như bất kỳ một con cá Cichlid nào khác, loài cá này có một niềm đam mê đào bới mãnh liệt. Vì vậy bạn nên lưu ý các vị trí trồng cây thủy sinhtrong bể. Tuy nhiên cũng có một ưu điểm, đó là nền cát của bể sẽ luôn sạch sẽ.
Do tập tính thích đào bới, nên bể nuôi cần có một nền cát mềm, hoặc sỏi nhỏ. Đây là một loài cá ăn tạp, do đó bạn có thể cho chúng ăn nhiều loại thức ăn như thức ăn viên mảnh, bo bo, trùn chỉ, sâu đông lạnh, tôm.
Để nhân giống loài Cichlid này, bạn nên lựa chọn cặp bố mẹ có hình thức đẹp, chúng đẻ trứng trong các hang động được thiết kế phù hợp. Khi trứng nở, cần tách cá bố ra một nơi, tuy nhiên điều này rất khó khăn.

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Giới thiệu về cá Koi Nhật Bản



Cá Koi theo tiếng nhật là Nishikigoi. Ðược người Nhật lai tạo giống cách đây hơn 200 năm. Tùy theo màu sắc đặc tính mà người ta còn có nhiều tên gọi cho các con cá:Thí dụ con cá có màu nền Trắng pha màu đỏ gọi là KOHAKU. Cá màu nền Trắng pha màu đỏ và thêm một chút màu đen gọi Showa sanke. Cá có màu xám bạc hai bên mang có màu đỏ pha trắng gọi là Asagi và Shusui. Ngoài ra còn có nhiều tên khác nữa để gọi như Kohaku, Sanke, Showa, Ogon, Kin- Showa, Kujaku, Hi- Utsuri, Shusui, Komonryu, Koromo. Showa Sanshoku
Cá Koi có thể sống tới cả trăm năm tuổi, bình thường nuôi trong hồ nhân tạo nó cũng thể sống tới 25 – 35 năm. Cá Koi khi trưởng thành có chiều dài khoảng 60 – 90 cm. Nếu nuôi và chăm sóc cẩn thận nó có thể lớn thêm được 5 – 10 cm mỗi năm. Cá Koi là một loại cá hiền lành, nó có thể sống chung với các loại cá khác. Tuy nhiên,  để tránh tình trạng lây nhiễm bệnh tật người ta thường nuôi cá Koi thuần nhất trong hồ và không nuôi thêm các cá khác.

1. Hồ Cá
Không giống như các loại cá cảnh khác được nuôi trong hồ kiếng để ngắm nhìn theo chiều ngang, cá Koi được nuôi trong một loại “ao“ nhỏ đào trong vườn . Hồ nuôi cá thường được đào sâu xuống theo hình bậc thang (có thể sâu khoảng 2m) để tạo nên những chiều sâu đa dạng, phía dưới được lót bằng những tấm nilon nhựa để nước khỏi thoát đi, dĩ nhiên nếu điều kiện kinh tế của bạn tốt hơn bạn có thể xây bằng xi măng, như thế hồ của bạn sẽ chắc chắn hơn nhiều, dung tích hồ tùy theo mặt bằng có sẵn của bạn, từ 4- 5 mét khối tới vài chục mét khối. Theo nhiều người khuyên bờ hồ nên xây cao hơn mặt nước khoảng 30 – 40 cm để tránh tình trạng chó hoặc mèo săn mất cá Koi của bạn. quanh bờ hồ người ta có thể trồng vài cây sen để cá có thêm bóng mát trongnhững ngày hè và cũng để làm giảm bớt sự phát triển của các loại rêu độc hại, hoặc trang trí thêm những ngọn đèn, cây cảnh Bonsai hay bàn ghế theo kiểu nhật cho thêm thơ mộng. Hồ nướccũng cần trang bị thêm một hệ thống bơm lọc để giữ nước luôn được trong sạch và tránh tình trạng bị rêu lan trong nước. Theo nguyên tắc đối với cá Koilớn khoảng 30 cm thì cứ mỗi mét khối nước thì được thả một con, cá nhỏ thì ta có thể thả mật độ dầy hơn.


2. Tiêu Chuẩn
Ðể đánh giá một con cá như thế nào là đẹp có rất nhiều tiêu chuẩn mà người nuôi cũng như ban giám khảo phải tuân thủ theo tiêu chuẩn của người Nhật bản. Thường thì người ta căn cứ vào màu sắc, sự trưởng thành của cá cũng như hình dáng của cá. Về màu sắc thì màu sắc phải tươi tắn tự nhiên, sự phân chia màu sắc phải rõ ràng, không loang lổ các khoảng màu có hình dạng độc nhất vô nhị. Thí dụ có chú cá Koi toàn thân trắng nhưng trên giữa đỉnh đầu có một đốm đỏ thật lớn, thật tròn như một hình mặt trời trên nền cờ của của con dân Thái Dương Thần Nữ.



3. Nước Nuôi Cá
Ðể cá có sức khoẻ vững bền, nước nuôi cá phải luôn được giữ trong sạch. Nồng độ pH luôn phải từ 7 tới 7,5 được coi là lý tưởng. Nếu nồng độ nitrit trong nước quá cao hoặc bạn có nhu cầu để thay nước hồ thì cũng không nên thay một lần mà nên thay từ từ, cứ 2 ngày rút đi khoảng một phần ba thể tích của hồ cho đến khi nước hồ trong lại. Bạn cũng nên chú ý đến các loại rong tảo phát triển trong nước, nếu rong tảo phát triển quá nhiều sẽ hút hết nồng độ ôxy trong nước và làm cá nghẹt thở. Tuy nhiên, sức chịu đựng của cá Koi cũng khá cao, có những hồ nước đặc rêu xanh mà người chủ không có thời gian để thay nước và vẫn có thể sống được. Ðể làm giảm sự phát triển của rong tảo bạn có thể trồng thêm những loại cây trong nước như sen, cỏ sậy quanh hồ, một thác nước nhỏ hoặc một vòi phun nước (dạng giếng phun ) cũng có tác dụng đáng kể.

4. Thức ăn
- Cá chép Nhật là loài cá ăn tạp, cá ba ngày tuổi tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài như: Bo bo và các loài động phiêu sinh khác, cũng có thể ăn lòng đỏ trứng chín.
- Cá được 15 ngày tuổi bắt đầu chuyển tính ăn, ăn động vật đáy, do đó giai đoạn này, tỉ lệ sống bị ảnh hưởng lớn. Trong điều kiện nuôi, chúng ta phải cung cấp thức ăn bên ngoài như trùn chỉ, loăng quăng, hoặc gây nuôi tốt các động vật phiêu sinh và động vật đáy để có thể cung cấp tốt nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Vai trò của nguồn thức ăn tự nhiên trong giai đoạn này quyết định tỉ lệ sống của cá.


5. Bệnh tật
Cá Koi cũng có thể lây nhiễm bệnh tật, các bệnh thường gặp như ngứa mình, biếng ăn, lở da rụng vảy, đốm trắng hay lở môi, cũng có những thuốc đặc trị bán sẵn trên thị trường. Cá bệnh nên vớt ra những hồ chứa riêng để theo dõi và điều trị. Trường hợp nặng hơn có lẽ bạn nên mời bác sĩ thú y.

Việt Nam chúng ta thú vui nuôi cá Koi chưa được nhiều người biết tới, hy vọng một ngày gần đây nó sẽ trở thành một thú vui có tính cách quần chúng. Còn gì thanh thản hơn sau một ngày lao động đầy căng thằng, mệt mỏi, về tới nhà với tách trà trong tay ngồi dưới bóng mát của bóng cây sau nhà, nghe tiếng chim hót, tiếng nước chảy rì rào như xa, như gần và dưới kia đàn cá chép kiểng Nhật Bản lượn lờ êm ả như một đám mây ngũ sắc đùa lượn. Hy vọng rằng bạn sẽ mau quên đi những lo âu thường ngày và một ngày nào đó nếu thời cơ đến quỹ gia đình của bạn sẽ được cải thiện đáng kể với cá chép kiểng Nhật Bản.